Tác động của giá dầu mỏ thấp đối với sản xuất hóa chất toàn cầu

02:01' PM - Thứ ba, 15/11/2016

Đầu năm 2016, giá một thùng dầu thô Brent đã giảm xuống dưới 30 USD. Đây là mức giảm khác thường từ những mức giá cao 100 - 120 USD/ thùng trong thời gian 2012 - 2014. Do đó, ngành sản xuất dầu khí đã phải chịu ảnh hưởng nặng nề, nhiều công ty đã bị sụt giảm mạnh lợi nhuận và phải cắt giảm nhân công hàng loạt. Nhưng đối với ngành sản xuất hóa dầu thì tình hình lại khác, với những diễn biến trái chiều đan xen.

Theo một chuyên gia hóa dầu tại Công ty tư vấn quản lý toàn cầu Bain (Mỹ), giá toàn bộ các sản phẩm hóa dầu nhìn chung đã được thiết lập ở mức thấp hơn trong bối cảnh giá dầu mỏ giảm xuống thấp. Nhưng có một tác động lớn là lợi thế về chi phí của các nhà sản xuất hóa dầu Mỹ so với các công ty cạnh tranh ở châu Âu đã giảm đi. Xu hướng này cũng khiến cho các nhà sản xuất hóa dầu Mỹ phải trì hoãn kế hoạch xây dựng các nhà máy crăcking mới - cơ sở để sản xuất những nguyên liệu cơ bản như etylen, propylen và các hydrocacbon nhẹ khác.

Ảnh hưởng đối với sản xuất polyetylen

Châu Âu phải dựa chủ yếu vào công nghệ crăcking naphta từ dầu thô để sản xuất etylen và các tiền chất hóa dầu khác, trong khi đó các nhà sản xuất Mỹ được tiếp cận nguồn etylen rẻ tiền hơn, dẫn xuất từ etan của khí đá phiến. Khoảng 50-70% giá thành polyetylen là chi phí nguyên liệu, đặc biệt là đối với các nhà sản xuất biên tế. Nhưng giá cả trên thị trường toàn cầu thường được xác định bởi các nhà sản xuất biên tế với giá thành sản xuất cao. Vì vậy, khi giá dầu mỏ sụt giảm (cùng với nó là giá etylen dẫn xuất từ naphta), các nhà sản xuất châu Âu có thể duy trì hoặc tăng biên lợi nhuận, ngay cả ở những mức giá polyetylen thấp hơn. Tuy nhiên, giá thấp hơn sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận hiện đang khá lớn của các nhà sản xuất Mỹ.

Đối với các nhà sản xuất polyetylen của Mỹ, giá dầu giảm 10 $/thùng có nghĩa là lợi nhuận của họ sẽ giảm 100 USD/tấn. Đối với một nhà sản xuất cỡ trung ở Mỹ với sản lượng 2 triệu tấn/năm, sự giảm giá của dầu mỏ như vậy làm biên lợi nhuận giảm khoảng 200 triệu USD.

Năm 2013, chi phí sản xuất etylen ở châu Âu cao gấp 4 lần ở Mỹ, nhưng nay chỉ còn cao gấp khoảng 2 lần.

Nhưng mặc dù biên lợi nhuận thấp hơn, các nhà máy của Mỹ vẫn sản xuất có lãi và việc xuất khẩu etan sang châu Âu để sản xuất etylen vẫn có ý nghĩa về mặt kinh tế, như Công ty Ineos (Thụy Sĩ) dự kiến sẽ thực hiện.

Sự sụt giảm mạnh của giá dầu mỏ cũng ảnh hưởng đến thị trường theo những cách khác. Nó khiến cho hiệu quả kinh tế của việc sử dụng các nguyên liệu thay thế dầu mỏ trở nên kém hấp dẫn hơn, đặc biệt là hóa chất dẫn xuất từ nhiên liệu sinh học và hóa chất cho sản xuất ắc quy. Xu hướng này cũng buộc các công ty hóa chất phải xem xét lại chiến lược phát triển của mình.

Tình trạng dao động thất thường trên thị trường dầu mỏ sẽ còn duy trì trong một thời gian nữa. Một số công ty sẽ phải đi theo chiến lược tập trung vào một số hóa chất chọn lọc. Tuy nhiên, việc đa dạng hóa danh mục sản phẩm vẫn là yếu tố quan trọng trong một thế giới đầy biến động, khi lợi nhuận tăng giảm thất thường trong cả chuỗi giá trị. Các công ty cũng sẽ cần phải tập trung vào những yếu tố cơ bản như cắt giảm chi phí và cải thiện hiệu quả vận hành.

Trên thực tế, một số dự án của các công ty hóa dầu tại Mỹ đã bị trì hoãn hoặc hủy bỏ. Nhưng các nước Bắc Mỹ vẫn tiếp tục là địa điểm hấp dẫn để đầu tư sản xuất hóa chất.

Ảnh hưởng đối với sản xuất benzen và sản phẩm phụ

Các sản phẩm phụ và dẫn xuất khác từ quá trình tinh chế dầu mỏ cũng chịu ảnh hưởng của việc giá dầu xuống thấp, nhưng những tác động thường phức tạp và trái chiều hơn. Tại Mỹ, từ trước đến nay nguồn cung benzen đã thường xuyên bị thiếu hụt. Khi crăcking naphta, đối với mỗi tấn etylen người ta cũng thu được 1 tấn sản phẩm phụ, trong đó có benzen. Quy trình crăcking etan từ khí đá phiến có hiệu quả hơn nhưng chỉ tạo ra rất ít benzen - nguyên liệu mà Mỹ rất cần cho sản xuất styren.

Trên thực tế, giá dầu mỏ và giá benzen có quan hệ có quan hệ khá chặt chẽ với nhau. Đồng thời, các công ty vận hành những nhà máy crăcking dầu mỏ thường lựa chọn nguyên liệu dầu thô với bậc chất lượng thích hợp sao cho có thể sản xuất ít hoặc nhiều benzen. Nhà máy crăcking dầu thô có thể lựa chọn phương án sản xuất điêzen ở mức tối đa, khi đó benzen sẽ được sản xuất quá nhiều và lợi nhuận thu được khi sản xuất nguyên liệu này sẽ giảm mạnh.

Sản phẩm hóa dầu càng nằm xa dầu thô trong chuỗi sản phẩm thì tác động của giá dầu mỏ sẽ càng nhỏ. Đối với hóa chất tinh khiết, dầu thô chỉ ảnh hưởng đến 10% giá thành sản xuất. Ví dụ về những trường hợp này gồm có các sản phẩm sơn, vật liệu phủ và chất kết dính chuyên dụng, mỹ phẩm chăm sóc cơ thể và các sản phẩm trung gian trong sản xuất dược phẩm. Nhiều sản phẩm hóa chất chuyên dụng rất khác nhau về tính chất, vì vậy các nhà sản xuất thường đàm phán về giá với khách hàng dựa trên giá trị của hóa chất mà không căn cứ vào chi phí sản xuất.

Theo Công ty Bain, ở các sản phẩm nông hóa người ta có thể chỉ nhận thấy tác động của sự dao động giá dầu mỏ sau một năm.

Butadien là một hóa chất quan trọng khác mà thường được sản xuất trong quá trình crăcking naphta. Butadien được kết hợp với styren (dẫn xuất từ benzen) và các thành phần khác để sản xuất cao su tổng hợp. Giá butadien chịu ảnh hưởng của giá dầu mỏ và khí thiên nhiên, nhưng mối quan hệ giá này khá phức tạp. Sự dao động của thị trường dầu mỏ gây ra sự dao động trên thị trường butadien, do đó dẫn đến dao động lớn trong giá cao su, nhưng không phải cứ giá dầu mỏ cao là sẽ kéo giá cao su tăng theo.

Xu hướng mở rộng nguồn cung các sản phẩm hóa dầu

Giá dầu mỏ có thể duy trì trong phạm vi 30-40 USD/ thùng trong vài năm tới hay không, đó là điều còn đang được tranh cãi. Quyết định năm 2014 của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC về việc không cắt giảm sản xuất đã được nhiều nhà phân tích coi như động thái nhằm gây áp lực lên các nhà sản xuất dầu đá phiến của Mỹ. Tuy nhiên, các nhà sản xuất Mỹ đã chứng tỏ là có sức chống chịu kiên cường một cách đáng ngạc nhiên, họ đã tìm cách tăng hiệu quả sản xuất và cắt giảm chi phí. Trên thực tế, sản xuất dầu đá phiến của Mỹ đã phá vỡ quyền lực chi phối của OPEC đối với giá dầu mỏ.

Hiện tại, tình trạng cung vượt cầu trong sản xuất dầu mỏ đã kéo dài hai năm, giúp các quốc gia nạp đầy các kho chứa. Hơn 100 triệu thùng dầu đang nằm chờ mà không được sử dụng trong các tàu chở dầu trên biển ở khắp nơi trên thế giới, trong khi đó dầu trong các kho chứa đã gần đạt dung tích thiết kế.

Chính phủ Arập Xê-út cho rằng bán dầu thô không phải là con đường để phát triển bền vững, vì vậy đang cố gắng mở rộng hoạt động sản xuất hóa dầu nhằm tạo công ăn việc làm và sản xuất các sản phẩm có giá trị cao hơn. Hai trong số các dự án hóa dầu lớn nhất của Arập Xê-út sẽ được đưa vào vận hành trong năm nay. Dự án mở rộng sản xuất tại Công ty Petro Rabigh sẽ bổ sung thêm 12 sản phẩm mới cho thị trường Arập Xê-út, trong khi đó liên doanh trị giá 20 tỷ USD giữa Công ty Saudi Aramco và Tập đoàn Dow Chemical sẽ sử dụng naphta làm nguyên liệu để sản xuất những sản phẩm mà trước đây chưa từng được sản xuất ở Trung Đông.

Hiện Mỹ đã xây dựng các nhà máy sản xuất etylen mới với công suất tổng cộng 10 triệu tấn/năm nhằm phục vụ cho thị trường châu á, nhưng một số chuyên gia cho rằng châu á sẽ không cần đến nguồn etylen đó. Công suất hóa dầu của Trung Quốc cũng được dự báo sẽ tăng đáng kể trong vài năm tới, giúp tăng cường khả năng tự cung tự cấp của quốc gia này đối với etylen, propylen, polyetylen và polypropylen. Những nhà máy hóa dầu mới của Arập Xê-út có khả năng sẽ được đưa vào vận hành vào thời điểm mà Trung Quốc - thị trường xuất khẩu then chốt của Arập Xê-út - đang tăng mạnh công suất hóa dầu của chính mình, trong đó bao gồm công suất etylen với tổng cộng 3 triệu tấn/năm.

HS

Theo ChemistryWorld, 2/2016

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,