Thị trường phân lân thế giới đang hồi phục

08:57' AM - Thứ tư, 23/02/2011

Những thay đổi trên thị trường phân lân thế giới thời gian qua, triển vọng trong những năm tới

Do các yếu tố cơ bản yếu kém về mặt cung cầu, thị trường phân lân thế giới đã trì trệ trong thời gian suốt hơn 20 năm trước năm 2006, giá phân lân gần như dậm chân tại chỗ. Tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu được phản ánh qua tỷ lệ sử dụng công suất thấp trong ngành khai thác quặng phốtphat, tỷ lệ này đã xuống mức thấp nhất là 67% vào năm 1992. Khi giá phân lân đạt đỉnh cao vào năm 2008, tỷ lệ sử dụng công suất trong ngành đã tăng lên đến 87%, nhưng tình trạng sử dụng công suất thấp và cung vượt cầu trong nhiều năm trước đó đã khiến cho lợi nhuận trong ngành không cao, dẫn đến đầu tư rất thấp trong lĩnh vực sản xuất phân lân.

Tình hình trên đã thay đổi khi nhu cầu bắt đầu vượt quá nguồn cung từ năm 2006. Cuối năm 2006, giá phân lân trên thế giới tăng mạnh. Nhưng hai năm sau, các động lực cung cầu lại dần dần tách xa nhau và cuối cùng đã dẫn đến tình trạng sụt giá nhanh chóng vào cuối năm 2008.

Tuy nhiên, về dài hạn các yếu tố cơ bản của ngành sản xuất phân lân vẫn rất bền vững. Dân số toàn cầu đang tiếp tục tăng, nhu cầu tăng nhanh năng suất cây trồng do quỹ đất nông nghiệp ngày càng hạn hẹp, xu hướng dinh dưỡng với hàm lượng calo ngày càng cao và gần đây là nhu cầu cây trồng để sản xuất nhiên liệu sinh học - tất cả những yếu tố này sẽ góp phần làm tăng mạnh nhu cầu phân lân trong tương lai.

Theo các chuyên gia của Tập đoàn OCP - tập đoàn sản xuất phân lân quy mô lớn của Marốc, hiện đang đóng vai trò quan trọng trên thị trường phân lân thế giới - thương mại axit phốtphoric sẽ tăng lên đến 6,1 triệu tấn P2O5 vào năm 2015 và 6,7 triệu tấn P2O5 vào năm 2018, tương đương mức tăng 34 % so với năm 2006 (4,7 triệu tấn P2O5), trong khi đó thương mại phân lân cũng sẽ tăng đến 13,4 triệu tấn P2O5 vào năm 2015 và 14,3 triệu tấn P2O5 vào năm 2018.

Thị trường các sản phẩm phốtphat vẫn là thị trường hàng hóa và phụ thuộc vào các yếu tố cung cầu, nhưng do tin tưởng các yếu tố thuận lợi cơ bản về cung cầu nên nhiều công ty trong ngành đang tiếp tục đầu tư vào các hoạt động khai thác cũng như sản xuất cuối dòng.

Có thể nói, thị trường quặng phốtphat hiện nay có nhiều điểm tương đồng với tình hình thị trường năm 2006 - khi giá quặng giảm xuống khoảng 40 $/ tấn FOB, trong khi đó giá DAP đạt trung bình 230 - 250 $/ tấn. Đến tháng 3/2008, giá quặng phốtphat đã tăng vọt lên 400 $/ tấn, trong khi đó giá DAP cũng đạt mức kỷ lục 1000 $/ tấn. Cuối quý I/2010, giá quặng phốtphat lại giảm xuống mức trung bình khoảng 100 - 120 $/ tấn, còn giá DAP cũng giảm xuống 450 $/ tấn. Tuy đã giảm mạnh từ mức đỉnh cao trong năm 2008, giá quặng và các sản phẩm phốtphat hiện nay vẫn đủ cao và tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích đầu tư.

Các chuyên gia của tổ chức phân tích và tư vấn kinh doanh British Sulphur Consultants dự báo giá quặng phốtphat và DAP trên thị trường thế giới sẽ giữ vững ở mức hợp lý trong năm 2010 và cả trong năm 2011. Từ năm 2012, giá quặng phốtphat và phân lân có thể sẽ giảm do cơ sở sản xuất mới và quy mô lớn sẽ đi vào vận hành, các nguồn cung mới sẽ được đưa ra thị trường.

Ngày nay, phần lớn quặng phốtphat đã khai thác được sử dụng cho sản xuất cuối dòng, một phần nhỏ được sử dụng làm phân bón trực tiếp. Tổng tiêu thụ quặng phốtphat trên thế giới ước tính đạt 160,3 triệu tấn trong năm 2009, trong đó khoảng 72% được sử dụng để sản xuất axit phốtphoric, 12% để sản xuất SSP và 16% để sản xuất các sản phẩm phốtphat khác. Trung Quốc là nước tiêu thụ các sản phẩm phốtphat hàng đầu trên thế giới, vượt xa các nước và khu vực khác, đạt tổng cộng 65 triệu tấn, tiếp theo là Mỹ (29 triệu tấn) và Châu Phi (21 triệu tấn).

Thương mại quốc tế là yếu tố then chốt trên thị trường phân lân thế giới. Gần 46% DAP và 12% quặng phốtphat được giao dịch thương mại trên thị trường quốc tế. Hiện nay, Marốc là nước dẫn đầu về xuất khẩu quặng phốtphat (5,8 triệu tấn), còn Ấn Độ dẫn đầu về nhập khẩu (5,2 triệu tấn).

Những rối loạn kinh tế trên thế giới trong hai năm qua đã ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của các cơ sở sản xuất các sản phẩm phốtphat cuối dòng. Tại Mỹ, với giá quặng trong khoảng 40 - 125 $/ tấn, giá lưu huỳnh 90 $/ tấn và giá amoniăc 465 $/ tấn, chi phí trung bình của sản xuất DAP hiện là khoảng 263 -410 $/ tấn tùy theo nguồn cung ứng quặng. Sản xuất DAP tại đây đã không có lãi đối với những nhà sản xuất đã mua quặng từ quý III/2008. Tuy các nhà sản xuất lại có thể có lãi trong quý II và III/2010, nhưng dự kiến biên lợi nhuận sẽ lại trở nên âm từ quý IV/2010.

Sau năm 2010, cạnh tranh giành thị phần sẽ tăng mạnh do các mỏ quặng phốtphat mới tại Peru và các nhà máy sản xuất cuối dòng tại Arập Xê-út sẽ đi vào vận hành.

Các siêu dự án phân lân

Arập Xê-út

Công ty Ma'aden tại Arập Xê-út hiện đang thiết lập vị thế như nhà cung ứng các sản phẩm phốtphat hàng đầu trên thế giới. Công ty đã nhận được giấy phép khai thác đối với mỏ quặng phốtphat Al Jalamid có tổng tài nguyên ước tính 4,12 tỷ tấn và trữ lượng đã thăm dò đạt 534 triệu tấn. Công ty cũng đã công bố kế hoạch phát triển mỏ Umm'Wual, nằm ở phía Tây mỏ Al Jalami. Hiện công việc xây dựng cơ sở hạ tầng với tuyến đường sắt dài 1500 km đang được triển khai nhanh. Tuyến đường sắt này dự kiến sẽ hoàn thành vào quý III/2010 và sẽ kết nối mỏ với các nhà máy cuối dòng. Trong khi đó, nhà máy DAP hiện đã được hoàn thành đến 90%.

Sau khi hoạt động khai thác tại Al Jalamid bắt đầu, Công ty Ma'aden sẽ chuyển trọng tâm sang dự án phốtphat tại al Khabra. Đây là một phần của khu mỏ Umm'Wual và hiện đang là đối tượng của một nghiên cứu khả thi. ước tính, tài nguyên quặng phốtphat tại đây đạt trên 700 triệu tấn với hàm lượng 17-19% P2O5. Sau khi tuyển, hàm lượng P2O5 sẽ được nâng lên đến 32%, trong khi đó hàm lượng Mg và kim loại nặng rất thấp. Công ty Ma'aden dự kiến sử dụng quặng này để sản xuất axit phốtphoric chất lượng cao, với công suất 1,5 triệu tấn P2O5/ năm.

Dự án Al Khabra sẽ củng cố vai trò của Ma’aden với tư cách là nhà cung ứng các sản phẩm phốtphat hàng đầu trên thế giới. Sản xuất DAP và MAP tại đây tiêu thụ khoảng 64% lượng axit phốtphoric được sản xuất từ quặng của mỏ này, các loại phân lân khác chiếm 28%, axit phốtphoric loại kỹ thuật và dùng cho thức ăn gia súc chiếm 10%.

Với quy mô và công suất lớn như vậy, hoạt động khai thác quặng và sản xuất các sản phẩm phốtphat tại các mỏ Al Jalamid và Al Khabra sẽ tượng trưng cho một kỷ nguyên công nghiệp mới tại Arập Xê-út.

Cadăcxtan

Cadăcxtan đứng trong 5 nước có trữ lượng quặng phốtphat hàng đầu trên thế giới - 5 nước này hiện chiếm tổng cộng 90% trữ lượng quặng phốtphat toàn cầu. Chính phủ Cadăcxtan đã xác định ngành sản xuất các sản phẩm phốtphat là lĩnh vực then chốt cho chiến lược tăng trưởng GDP trong nước.

Tại Cadăcxtan, khu đầm lầy Karatau hiện có hơn 45 mỏ quặng phốtphat với tổng trữ lượng khoảng 13,7 tỷ tấn quặng, bao phủ một vùng có diện tích 25 x 120 km, trải rộng giữa ba nước Cadăcxtan, Udơbêkixtan và Tuôcmenixtan. Hàm lượng P2O5 trong quặng tại đây tương đối cao, khoảng 21-25%. Công ty Kazphosphate, công ty sản xuất các sản phẩm phốtphat quy mô lớn tại Cadăcxtan, hiện có quyền tiếp cận 14 trong số các mỏ đã thăm dò ở khu Karatau với tổng trữ lượng 4 tỷ tấn quặng. 6 trong số các mỏ này hiện đang được khai thác, 4 mỏ ở dạng khai thác lộ thiên, 2 mỏ còn lại được khai thác ngầm dưới mặt đất. Theo kế hoạch tăng sản lượng quặng phốtphat, Kazaphosohate dự kiến sẽ xuất khẩu khoảng 2,1 triệu tấn quặng/ năm từ năm 2012, tương đương 65% tổng sản lượng khai thác. Các thị trường đích của Công ty là các nước láng giềng như Nga, Udơbêkixtan, Tuôcmenixtan và Ucraina.

Công ty Kazasphosphate cũng sẽ xây dựng một nhà máy tuyển quặng, dự kiến sẽ đi vào vận hành năm 2013. Nhà máy mới này với vốn đầu tư 55 triệu USD sẽ có công suất mỗi năm 2 triệu tấn tinh quặng dạng huyền phù và 1,5 triệu tấn tinh quặng tuyển nổi (tối thiểu 30% P2O5, tối đa 1,5% MgO). Đồng thời, Công ty cũng có kế hoạch tăng thị phần tại thị trường nội địa. Về dài hạn, Kazaphosphate sẽ tìm kiếm các cơ hội xuất khẩu sang các thị trường đang tăng nhập khẩu phân lân như Ấn Độ, Iran, Trung Quốc, Pakistan.

Ôxtrâylia

Công ty Minemakers, ôxtrâylia, đang chuẩn bị khai thác những nguồn quặng phốtphat rất lớn tại Wonarah (ôxtrâylia) và Namibia, Châu Phi. Nguồn quặng phốtphat tại Wonarah có trữ lượng khoảng 1,258 tỷ tấn với hàm lượng trung bình 12% P2O5, còn nguồn quặng phốtphat tại Namibia có trữ lượng 670 triệu tấn với hàm lượng trung bình 18,8% P2O5. Công ty hiện đang triển khai các bước đầu tiên của dự án khai thác quặng phốtphat tại Woranah. Theo kế hoạch, nếu điều kiện thị trường thuận lợi thì dự án này sẽ bắt đầu đi vào vận hành từ cuối năm 2010, với sản lượng sẽ được nâng dần lên 3 triệu tấn/ năm sau khi mở rộng hệ thống cảng và đường sắt vận chuyển quặng.

Tại Namibia, Công ty Minemakers dự kiến sẽ bắt đầu khai thác quặng phốtphat trong năm 2011.

Sản xuất phân lân tại Trung Quốc

Tài nguyên quặng phốtphat đã thăm dò tại Trung Quốc (TQ) đạt khoảng 11 tỷ tấn, ngành khai thác và chế biến quặng phốtphat tại đây hiện đạt tổng sản lượng khoảng 60 triệu tấn/ năm. Các khu vực khai thác quặng phốtphat chủ yếu nằm ở các tỉnh Tứ Xuyên, Vân Nam, Hồ Bắc, Hồ Nam và Quý Châu. 5 tỉnh này chiếm 77% trữ lượng quặng phốtphat của TQ. Khoảng 9% quặng phốtphat là loại 1 với hàm lượng P2O5 trên 30%, 12% là loại 2 với 25 -30% P2O5. Phần lớn quặng phốtphat TQ là quặng loại 3 (12-25% P2O5), chiếm 60% tổng trữ lượng. Do quặng phốtphat TQ chủ yếu là loại bậc thấp nên chi phí tuyển và xử lý khá cao. Các mỏ đang hoạt động ở đây là các mỏ quy mô lớn nhưng đang gặp những vấn đề nghiêm trọng về việc xử lý phế thải khai thác.

Sản xuất DAP và MAP cuối dòng của TQ dự kiến sẽ tăng trong năm 2010, do đó sẽ thúc đẩy sản lượng khai thác quặng. Lượng quặng dành cho buôn bán thương mại vì vậy cũng sẽ giảm. TQ vẫn tiếp tục duy trì hệ thống quản lý bằng cách cấp quota xuất khẩu để bảo tồn tài nguyên, bảo vệ môi trường và khuyến khích phát triển bền vững. Theo hệ thống quota mới, khoảng 1,5 triệu tấn quặng sẽ được dành cho xuất khẩu. Thuế tài nguyên của TQ cũng đã tăng từ 3 nhân dân tệ/ tấn lên 15 nhân dân tệ/ tấn.

Năm 2009, TQ đã sản xuất 870.000 tấn phốtpho vàng, tăng 2% so với năm trước. Trong khi đó, xuất khẩu giảm hai phần ba, xuống còn 21.600 tấn, với giá bán khoảng 2700 USD/ tấn, giảm 53% so với năm 2008.

Hiện nay TQ có khoảng 100 nhà sản xuất quặng phốtphat với tổng công suất khoảng 2,2 triệu tấn/ năm. Tỷ lệ vận hành công suất trong sản xuất phốtpho vàng chỉ ở mức 30% do giá điện tăng 8% và tình trạng khô hạn nặng nề tại Vân Nam. Do đó, nguồn cung sản phẩm đang bị thiếu hụt. Giá phốtpho vàng đã tăng từ 1610 USD/ tấn (tháng 12/2009) lên 2490 USD/ tấn (tháng 2/2010) và dự kiến sẽ tăng tiếp trong năm nay.

Triển vọng dài hạn

Phốtpho là nguyên tố dinh dưỡng đầu vào quan trọng đối với tất cả các cơ thể sống và không thể được thay thế trong sản xuất lương thực thực phẩm, vì vậy nhu cầu đối với các hợp chất P sẽ luôn luôn được duy trì trên toàn cầu.

Trong nhiều năm qua, phân bón hóa học đã góp phần cung cấp lương thực thực phẩm cho hàng tỷ người trên thế giới nhờ giúp tăng sản lượng cây trồng. Tuy nhiên, trong khi ngành sản xuất các hợp chất phốtphat đã nhận thức và đáp ứng các vấn đề về ô nhiễm P (phì dưỡng) thì vấn đề bảo đảm nguồn cung P về dài hạn lại ít được quan tâm hơn.

Đối với việc bảo đảm nguồn cung P về dài hạn, một vấn đề trọng tâm là “đỉnh sản lượng P”. Tương tự dầu mỏ, quặng phốtphat là tài nguyên có hạn, không thể khai thác vô tận, và theo các chuyên gia trong ngành thì mức đỉnh của sản lượng khai thác quặng phốtphat ước tính sẽ đạt được vào năm 2035. Những chỉ báo quan trọng đối với mức đỉnh sẽ đến này là sự suy giảm liên tục của chất lượng quặng, chi phí sản xuất ngày càng cao và các tác động đối với môi trường như tiêu hao nhiều năng lượng, hàm lượng cađmi cao và khối lượng lớn sản phẩm phụ phốtphogip cần được xử lý.

Mặt khác, việc sử dụng P thiếu hiệu quả trong hệ thống sản xuất lương thực thực phẩm toàn cầu cũng đang góp phần gây ra khan hiếm P. Trong khi các nước phương Tây sản xuất dư thừa lương thực thực phẩm thì nông dân ở nhiều nơi trên thế giới lại khó tiếp cận phân bón do giá cao và/ hoặc không có khả năng tiếp cận các nguồn vay vốn cho sản xuất nông nghiệp.

Về mặt địa chính trị, tuy ở tất cả mọi nơi người nông dân đều cần sử dụng phân lân, nhưng chỉ riêng 5 nước trên thế giới đã chiếm 85% tài nguyên quặng phốtphat toàn cầu. yếu tố này góp phần quan trọng gây ra tình trạng thiếu hụt P ở nhiều khu vực sản xuất nông nghiệp trên thế giới.

Vì vậy, ngành nông nghiệp và sản xuất phân bón cần phải chuẩn bị để đáp ứng nhu cầu P về dài hạn, sau khi sản xuất P đạt đến “đỉnh sản lượng”. Để đạt được mục đích này, cần phải có những thay đổi cơ bản trong các phương thức thực hành hiện nay, đặc biệt là về mặt sản xuất và sử dụng phân lân một cách có hiệu quả.

Theo British Sulphur Consultants, trong nửa thế kỷ qua nhu cầu phân bón trên thế giới đã tăng 5 lần, đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 3,5%/năm đối với mỗi thành phần dinh dưỡng. Phân đạm dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng nhu cầu, trung bình tăng 4,5 %/năm, trong khi đó phân lân tăng 2,6%/năm và phân kali tăng 2,5%/năm. Tuy nhiên, về dài hạn các lĩnh vực sản xuất phân lân và phân kali dự kiến sẽ có tốc độ tăng trưởng cao hơn. Trung bình, tỷ lệ sử dụng các loại phân bón NPK trên toàn cầu hiện nay là 1:0,37:0,26.

Trong thời gian 2007 - 2008, nguồn vốn đầu cơ trên các thị trường tài chính và hàng hóa thế giới đã khiến cho giá phân bón tăng nhanh hơn giá các loại ngũ cốc. Hiện nay, nguồn vốn đầu tư đã quay trở về các hàng hóa nông sản. Giá các loại vật tư như phân lân đã giảm xuống mức cho phép người nông

dân có thể sử dụng chúng mà vẫn đạt hiệu quả kinh tế. Vì vậy, triển vọng nhu cầu phân lân trong tương lai gần đã được cải thiện một cách đáng kể. ở nhiều nơi trên thế giới, khả năng của người nông dân tiếp cận các nguồn vốn vay cho sản xuất nông nghiệp cũng đã được cải thiện.

Những dấu hiệu đầu tiên cho thấy nhu cầu phân lân tại Mỹ đã hồi phục mạnh trong mùa xuân 2010. Đồng thời, nhu cầu phân lân tại châu Mỹ La tinh cũng đang bước vào giai đoạn phục hồi mạnh. Trong khi đó, dự kiến xuất khẩu phân lân từ Trung Quốc sẽ không đóng vai trò quan trọng như trước trên thị trường quốc tế do sự nổi lên của những nước sản xuất mới, còn Ấn Độ sẽ tiếp tục là thị trường nhập khẩu phân lân quan trọng.

Nhìn chung, triển vọng nhu cầu phân lân trong dài hạn đang tỏ ra ổn định với mức tăng trưởng 2-3%/ năm. Dự kiến, tỷ lệ vận hành công suất trong ngành sẽ đạt trung bình 72%. Giá quặng phốtphat đang duy trì ở mức ổn định khoảng 100 USD/ tấn, nhưng việc đưa vào vận hành các tổ hợp khai thác mới như Ma'aden tại Arập Xê-út và Vale tại Peru,... sẽ có tác động làm giảm giá quặng phốtphat.

HOÀNG SƠN

Theo British Sulphur, 6/2010

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,