Cân bằng cung cầu các loại phân bón trên thế giới đến năm 2014

01:08' PM - Thứ sáu, 17/12/2010

Triển vọng cung cầu phân đạm

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua và tiếp theo đó là tình trạng suy thoái kinh tế từ cuối năm 2008 đã có tác động đáng kể làm giảm các kế hoạch đầu tư và xây dựng trong lĩnh vực sản xuất phân đạm.

Đầu năm 2008, triển vọng tốt đẹp về nhu cầu phân đạm đã dẫn đến việc nhiều dự án mới được công bố, mở ra xu hướng tăng trưởng công suất mạnh trong tương lai. Nhưng sang năm 2009, một số dự án đã bị trì hoãn và một số khác bị hủy bỏ. Có vẻ như tình hình tương tự như vậy cũng đang xảy ra trong năm 2010.

Theo dự báo của Hiệp hội Phân bón thế giới (IFA), công suất amoniăc toàn cầu trong thời gian 2009 - 2014 sẽ tăng trưởng với tốc độ 4%/năm, tương đương mức tăng ròng 37,4 triệu tấn NH3 so với năm 2008. Trong thời gian đó, gần 65 nhà máy mới sẽ được xây dựng hoặc được lập kế hoạch đưa vào vận hành, trong đó chỉ riêng Trung Quốc (TQ) đã có 23 nhà máy mới. Chỉ một phần nhỏ của mức tăng công suất tổng thể này là đến từ nguồn cung amoniăc thương mại, vì đa số các dự án nói trên đều liên kết với sự gia tăng công suất urê cuối dòng và ở một phạm vi nhất định là công suất amoni nitrat (AN) cũng như các sản phẩm phốtphat đã chế biến.

Đến năm 2014, dự kiến công suất amoniăc toàn cầu sẽ đạt 224,1 triệu tấn NH3. Các đợt tăng công suất chủ yếu sẽ diễn ra tại Đông á (TQ và Việt Nam), Châu Phi (Angiêri và Ai-Cập), Tây á (Quata, Iran, Arập Xê-út) và Nam á (Ấn Độ, Pakistan). Một số nước khác cũng sẽ mở rộng các nhà máy amoniăc hiện có hoặc khởi động lại các nhà máy đã ngừng hoạt động.

Theo ước tính của IFA, thương mại amoniăc toàn cầu trên đường biển năm 2009 đạt tổng cộng khoảng 15,1 triệu tấn NH3, chiếm 85% tổng khối lượng thương mại amoniăc trên toàn thế giới. 15% còn lại là thương mại đường bộ tại châu Âu và Bắc Mỹ.

Nhìn chung, dư thừa trong cán cân cung cầu phân đạm toàn cầu sẽ là 4,7 triệu tấn N trong năm 2010 và tăng đến 11,1 triệu tấn N trong năm 2013, 16,7 triệu tấn N trong năm 2014. Mức dư thừa tiềm năng trong năm 2010 tương đương 3,5 % nguồn cung phân đạm toàn cầu. Đến năm 2014, mức dư thừa này sẽ lên đến 10% nguồn cung phân đạm toàn cầu.

Triển vọng cung cầu urê

Urê là ví dụ điển hình về sự tăng trưởng trong lĩnh vực sản xuất phân đạm. Trong thời gian 1999 - 2009, gần 90% mức tăng trưởng trong sản xuất các sản phẩm phân đạm là do tăng trưởng sản xuất urê. Điều này được phản ánh trong sự phát triển công suất urê, liên kết chặt chẽ với sự phát triển công suất amoniăc.

Mặc dù một số dự án đã bị hủy bỏ và nhiều dự án bị trì hoãn, công suất urê toàn cầu vẫn sẽ tăng ròng 30% trong thời gian 2009 - 2014. Trong thời gian đó, dự kiến sẽ có khoảng 55 nhà máy urê mới được đưa vào vận hành, trong đó có khoảng 20 nhà máy ở Đông á. Tổng công suất urê toàn cầu dự báo sẽ tăng 51,3 triệu tấn so với năm 2009 (tương đương mức tăng 30%) và đạt 222 triệu tấn vào năm 2014. Khu vực Đông á sẽ đóng góp 32% cho mức tăng công suất này. Các khu vực khác có mức đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng công suất urê toàn cầu là Nam á (24%), Tây á (13%), châu Mỹ La tinh (8%), Châu Phi (7%).

Nhìn chung, trong bối cảnh tỷ lệ vận hành công suất urê tại các nước và xác suất cao trong việc đưa vào vận hành các nhà máy mới, ước tính nguồn cung urê sẽ đạt 155,6 triệu tấn trong năm 2010 và 193,4 triệu tấn vào năm 2014, với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm đạt 6% so với năm 2009.

Trong khi đó, nhu cầu trên thị trường urê đang tiếp tục hồi phục trong năm 2010 và dự kiến sẽ tiếp tục tăng. Theo dự báo, nhu cầu urê toàn cầu sẽ tăng từ 146,4 triệu tấn năm 2009 lên 151,2 triệu tấn năm 2010 và 174,6 triệu tấn năm 2014, tương đương mức tăng ròng 28 triệu tấn so với năm 2009, đạt tốc độ tăng trưởng 3,8%/năm.

Cán cân cung cầu urê trong thời gian 2010 - 2014 cho thấy tình trạng dư thừa nguồn cung cho đến năm 2012 tương đối ổn định, đạt trung bình 5 triệu tấn/năm. Sau đó, mức dư thừa nguồn cung này sẽ tăng nhanh, từ 9 triệu tấn năm 2013 lên 19 triệu tấn năm 2014. Như vậy, dư thừa nguồn cung urê trong thời gian 2010-2014 tương đối nhỏ, chỉ chiếm 3% tổng nguồn cung urê toàn cầu, nhưng sau đó sẽ tăng nhanh đến 10% vào năm 2014. Tình trạng mất cân đối trong năm 2014 là do xu hướng bổ sung nhanh các công suất sản xuất mới khi số các dự án mới tăng mạnh, song song với đó là tăng trưởng tiêu thụ phân đạm có khả năng sẽ chậm lại.

Triển vọng cung cầu phân lân

Nhìn chung, công suất quặng phốtphat trên thế giới dự kiến tăng 20%, từ 190 triệu tấn năm 2009 lên 228 triệu tấn năm 2014. Nguyên nhân của xu hướng tăng trưởng công suất này là sự kết hợp giữa các chương trình mở rộng công suất tại các mỏ hiện đang hoạt động, tình hình phát triển các mỏ mới của các nhà sản xuất hiện tại cũng như sự tham gia của các nhà sản xuất mới.

Dự báo, nguồn cung quặng phốtphat sẽ tăng ở hầu hết tất cả các khu vực trên thế giới, nhưng chủ yếu là ở Châu Phi, Tây á và Đông á. Trong khi đó, công suất sản xuất quặng phốtphat ở Bắc Mỹ dự kiến sẽ giảm. Nguồn cung từ các nhà cung ứng mới sẽ đạt gần 17 triệu tấn, trong đó hơn một nửa dành cho xuất khẩu. Nhưng về dài hạn phần lớn các nhà cung ứng mới đều có kế hoạch chế biến quặng để sản xuất thành phẩm. Nếu tất cả các những dự án dự kiến này đều được triển khai theo kế hoạch đã công bố, về trung hạn sẽ không xảy ra tình trạng thiếu nguồn cung tinh quặng phốtphat.

Công suất axit phốtphoric toàn cầu dự báo sẽ tăng ròng 9,2 triệu tấn, đạt 55,5 triệu tấn P2O5 trong thời gian 2009 - 2014. Khoảng 90% mức tăng ròng này là để đáp ứng nhu cầu của các thị trường nội địa, phần còn lại là do các hợp đồng mua bán đã ký. Công suất sản xuất axit phốtphoric sẽ tăng chủ yếu ở TQ, Marốc và Arập Xê-út. Các đợt tăng công suất axit phốtphoric bậc thương mại chủ yếu là ở các nhà máy chỉ chuyên về sản xuất sản phẩm này (không kết hợp với sản xuất phân bón) tại Marốc và Gioocđani.

Lượng tăng ròng công suất axit phốtphoric bậc thương mại ước tính đạt 1,6 triệu tấn P2O5, trong đó 1,5 triệu tấn là đến từ 4 nhà máy quy mô lớn và chỉ chuyên về sản xuất sản phẩm này. Nhưng dự kiến sẽ không có công suất axit phốtphoric bậc thương mại mới nào được đưa vào vận hành trước năm 2014.

Nhìn chung, điều kiện thị trường đối với các sản phẩm đi từ axit phốtphoric sẽ tương đối cân bằng cho đến năm 2014. Nguồn cung axit phốtphoric toàn cầu ước tính đạt 39,4 triệu tấn trong năm 2009, 39,6 triệu tấn năm 2010 và 47,1 triệu tấn năm 2014. Trong khi đó, nhu cầu toàn cầu dự báo sẽ tăng với tốc độ 5%/năm kể từ năm 2009, đạt 43,7 triệu tấn P2O5 vào năm 2014.

Tình hình cung cầu axit phốtphoric toàn cầu trong thời gian 2009 - 2014 cho thấy khả năng dư thừa nhỏ, khoảng 2,0 triệu tấn P2O5 trong năm 2010, tương đương 5% nguồn cung hiện có. Tình trạng mất cân bằng nhẹ này sẽ tăng vừa phải lên mức 2,7 triệu tấn vào năm 2012 và 3,4 triệu tấn vào năm 2014, do các dự án đã tuyên bố sẽ được hoàn thành và đi vào vận hành.

Đối với DAP, hiện đang có những kế hoạch mở rộng công suất lớn nhưng do sự tăng trưởng nhu cầu nên hầu hết những sản lượng mới này sẽ được thị trường hấp thụ hết cho đến năm 2014.

Trong 5 năm tới, dự kiến gần 40 nhà máy MAP, DAP và TSP mới sẽ được xây dựng ở 10 nước, trong đó chỉ riêng TQ đã chiếm một nửa. Các nhà máy mới cũng đang được lập kế hoạch xây dựng tại Châu Phi (Angiêri, Marốc và Tuynisi), Tây á (Arập Xê-út), châu Á (Băng-la-đét, TQ, Inđônêxia và Việt Nam), châu Mỹ La tinh (Braxin và Vênêxuêla) cũng như tại Đông âu - Trung á (Cadăxtan).

Công suất toàn cầu đối với các loại phân lân đã chế biến dự kiến sẽ đạt 42,3 triệu tấn vào năm 2014, tương ứng mức tăng ròng 8,2 triệu tấn so với năm 2009. Các dự án mở rộng công suất DAP chiếm ba phần tư mức tăng này.

Cân bằng cung cầu toàn cầu đối với DAP cho thấy tình trạng thị trường tương đối cân bằng cho đến năm 2014, với khả năng dư thừa hàng năm khoảng trung bình 2,5 triệu tấn DAP, tương đương dưới 8% nguồn cung. Trong thời gian 2010 - 2014, ước tính toàn bộ sản lượng từ các đợt bổ sung công suất mới sẽ được hấp thụ bởi nhu cầu đang tăng.

Triển vọng cung cầu các sản phẩm kali

Nhu cầu các sản phẩm kali trong các lĩnh vực phân bón và công nghiệp đã tương đối yếu trong năm 2009. Trong khi đó, tiêu thụ phân kali đã giảm năm thứ hai liên tiếp, với mức giảm 8,6% so với năm 2008, tiếp theo mức giảm 16% so với năm 2007. Doanh số các sản phẩm kali toàn cầu đã sụt giảm mạnh do một số nước tiêu thụ lớn vẫn còn hàng dự trữ vào đầu năm 2009.

Năm 2010, gần 100 dự án khai thác và sản xuất các sản phẩm kali mới đã được lập kế hoạch và triển khai ở gần 25 nước trên thế giới. Chỉ riêng Canađa đã cấp hơn 180 giấy phép khai thác trong vòng 3 năm qua. Về trung hạn, cuộc khảo sát công suất các sản phẩm kali của IFA năm 2010 đã xác định 20 dự án mở rộng của các nhà sản xuất hiện tại và khoảng 8 dự án của các nhà sản xuất mới. Kết quả chính của cuộc khảo sát này là đã xác định sự giảm đáng kể tốc độ tăng trưởng công suất dự kiến đối với thời gian 2009-2014.

Công suất các sản phẩm kali toàn cầu dự kiến sẽ tăng từ 41,6 triệu tấn K2O năm 2009 lên đến 54,7 triệu tấn vào năm 2014. Mức tăng 13 triệu tấn này chủ yếu được thực hiện ở Canađa và Nga, đó là những nước cho đến nay vẫn đóng vai trò chi phối trong lĩnh vực này. Nhưng các nhà máy mới cũng sẽ xuất hiện ở Achentina, Chilê, TQ, Cônggô, Ixraen, Gioocđani và Lào.

Nhìn chung, các đợt bổ sung công suất mới trong các năm 2010 và 2011 sẽ ở mức vừa phải, với mức tăng tổng cộng 2,0 triệu tấn K2O. Nhưng sau đó mức tăng trưởng công suất sẽ gia tăng. Dự báo, khoảng 8,4 triệu tấn công suất mới sẽ được đưa vào vận hành trong thời gian 2012 - 2013, tiếp theo là 2,5 triệu tấn trong năm 2014.

Nguồn cung các sản phẩm kali trên thế giới dự kiến sẽ tăng từ 37,1 triệu tấn K2O năm 2009 lên 38 triệu tấn năm 2010 và đạt 45,9 triệu tấn vào năm 2014. Đây là mức tăng 24% so với năm 2009 (tương ứng tốc độ tăng trưởng 4,7%/năm). Một nửa của mức tăng ròng này là do nguồn cung các sản phẩm kali mới sẽ được đưa vào vận hành trong các năm 2013 và 2014.

Nhìn chung, nhu cầu toàn cầu đối với các sản phẩm kali ước đạt 24,8 triệu tấn năm 2009, 29,9 triệu tấn năm 2010 và 35,8 triệu tấn năm 2014, tương ứng mức tăng trưởng trung bình 9%/năm.

Cân bằng cung cầu cho thấy, về ngắn hạn sẽ có xu hướng giảm mức thặng dư lớn trong nguồn cung các sản phẩm kali. Xu hướng giảm này sẽ tăng nhanh sau năm 2012. Nếu giả thiết các nhà máy mới bị chậm tiến độ 1 năm, mức tăng trưởng nguồn cung các sản phẩm kali sẽ hoàn toàn được hấp thụ bởi mức tăng dự kiến của nhu cầu.

Triển vọng cung cầu lưu huỳnh

Trong thời gian 2009 - 2014, sản lượng lưu huỳnh nguyên tố trên thế giới dự kiến sẽ tăng với tốc độ trung bình 8%/năm, đạt 67,1 triệu tấn vào năm 2014. Khoảng 60% trong mức tăng 19 triệu tấn sản lượng lưu huỳnh này là do đóng góp của ngành chế biến khí thiên nhiên.

Dự kiến, sản lượng lưu huỳnh sẽ tăng đáng kể ở các nước tại Đông á, Tây á, khu vực Đông âu - Trung á và Bắc Mỹ. Tổng cộng, 4 khu vực này chiếm 85% mức tăng ròng sản lượng lưu huỳnh trong thời gian 2009 - 2014.

Tiêu thụ lưu huỳnh nguyên tố dự kiến sẽ tăng trưởng với tốc độ 6%/năm so với năm 2009, đạt 62,1 triệu tấn vào năm 2014. Sự tăng trưởng này là do sự hồi phục nhanh của tiêu thụ axit sunphuric trong sản xuất phân lân đi từ axit phốtphoric và do nhu cầu sử dụng axit sunphuric trong chế biến quặng ngày càng tăng.

Dự báo, tiêu thụ axit sunphuric toàn cầu - lĩnh vực chiếm 84% tổng nhu cầu lưu huỳnh - sẽ tăng với tốc độ 5%/năm so với năm 2009. Trong đó, sản xuất phân bón - lĩnh vực chiếm một nửa nhu cầu tiêu thụ axit sunphuric - sẽ tăng trưởng với tốc độ 4,5%/năm so với năm 2009.

Trong ngắn hạn, thị trường lưu huỳnh có vẻ như đang cân bằng do sự hồi phục mạnh mẽ của ngành sản xuất các sản phẩm phốtphat và sự thiếu hụt sản lượng của các dự án khai thác lưu huỳnh đã công bố.

Dự báo, trong thời gian 2011-2012 sẽ có sự dư thừa vừa phải ở mức 2,0-2,3 triệu tấn S, với giả thiết là khi đó sẽ có các nguồn cung mới từ những dự án bị trì hoãn. Khi kết thúc chu kỳ dự báo, có thể xuất hiện tình trạng dư thừa đáng kể do sự tăng mạnh của nguồn cung trong năm 2014. Nhưng nếu sản lượng lưu huỳnh trong tương lai tăng trưởng với tốc độ thấp hơn dự kiến do sự trì hoãn ở các dự án lớn thì tình hình cung cầu sít sao sẽ chi phối thị trường lưu huỳnh cho đến năm 2013.

Triển vọng thương mại trung hạn

Trong vòng 2 năm tới, thương mại phân bón toàn cầu sẽ hồi phục đến mức của năm

2007 do nhu cầu phân bón hồi phục nhanh và sẽ tăng trưởng cho đến năm 2014.

Về ngắn hạn, trong cung cầu phân bón trên thế giới sẽ có khả năng dư thừa nguồn cung đối với quặng phốtphat, các sản phẩm kali và urê do sự xuất hiện của những công suất sản xuất lớn tại các khu vực xuất khẩu chính. Trong 5 năm tới, điều kiện thị trường đối với phân lân (nhất là DAP), axit phốtphoric thương mại, amoniăc thương mại và lưu huỳnh dự kiến sẽ tương đối cân bằng nhờ sự tăng trưởng vững chắc của nhu cầu và sự tăng dần công suất sản xuất.

Nhìn chung, trong thời gian 2009 - 2014 thương mại toàn cầu đối với các sản phẩm phân bón sẽ tăng trưởng 15-33% tùy theo sản phẩm dinh dưỡng và khu vực tiêu thụ.

Dự kiến, thương mại quốc tế đối với urê và amoniăc thương mại sẽ tăng 15 và 20% tương ứng trong thời gian 2009 - 2014. Nhập khẩu các sản phẩm phốtphat sẽ tăng tổng cộng 3-4 triệu tấn P2O5 (tăng 15% so với năm 2009). Nhập khẩu các sản phẩm kali cũng sẽ tăng 35% trong thời gian 2009 - 2014.

Những nét chính trong thương mại các sản phẩm phân bón về trung hạn là:

Các nước Tây âu sẽ ngày càng tăng cường nhập khẩu phân đạm, urê công nghiệp và các sản phẩm phốtphat, trong khi đó sẽ duy trì mức dư thừa ổn định đối với các sản phẩm kali. Phần lớn mức tăng nhu cầu urê là do nhu cầu của lĩnh vực công nghiệp - lĩnh vực này sẽ chiếm hơn một nửa tổng lượng urê tiêu thụ trong năm 2014.

Các nước Trung âu sẽ tiếp tục có tình trạng thiếu các sản phẩm phốtphat và kali, trong khi đó sẽ duy trì mức dư thừa nhẹ đối với các sản phẩm phân đạm và urê.

Các nước khu vực Đông âu - Trung á sẽ tiếp tục là khu vực xuất khẩu quan trọng đối với tất cả ba chất dinh dưỡng chính, nhưng sẽ phải chứng kiến tình trạng dư thừa ngày càng tăng đối với các sản phẩm kali và urê.

Bắc Mỹ sẽ đứng trước tình trạng tăng mạnh sự dư thừa các sản phẩm kali do các nhà máy mới tại Canađa đi vào hoạt động. Nhưng khu vực này sẽ tăng nhập khẩu các sản phẩm phân đạm, đặc biệt là urê, đồng thời duy trì ổn định tình trạng dư thừa các sản phẩm phốtphat.

Châu Mỹ La tinh sẽ tiếp tục là một trong những khu vực nhập khẩu phân bón lớn nhất trên thế giới, với nhu cầu urê, các sản phẩm kali và phốtphat tăng cho đến năm 2014. Nhưng cân bằng các sản phẩm phân đạm tại đây cho thấy tình trạng dư thừa đang hình thành do các nhà máy mới dự kiến sẽ được đưa vào vận hành tại Pêru và Vênêxuêla.

Nam á (chủ yếu là Băng-la-đét, Ấn Độ và Pakistan) sẽ trở thành khu vực nhập khẩu phân bón hàng đầu trên thế giới, với nhu cầu nhập khẩu urê và các sản phẩm phốtphat (DAP) tăng cho đến năm 2014. Đây cũng là khu vực nhập khẩu các sản phẩm kali lớn thứ hai trên thế giới, với lượng nhập khẩu trên 5 triệu tấn K2O vào năm 2014.

Đông á sẽ trở thành khu vực nhập khẩu các sản phẩm kali lớn nhất thế giới (8,5 triệu tấn K2O vào năm 2014) do nhu cầu cao và ổn định tại TQ và các nước Đông Nam á. Nhập khẩu các sản phẩm phân đạm, urê và phân lân ở Đông á dự kiến sẽ giảm do tình trạng dư thừa đang tăng tại TQ và việc đưa vào vận hành các nhà máy mới tại Việt Nam, Inđônêxia.

THẾ NGHĨA

Theo tài liệu của IFA, 6/2010

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,