Xử lý nước thải mạ điện bằng vi điện hoá

12:00' AM - Thứ năm, 18/09/2003

Crom thải ra dười dạng anion Cr2O72- có tính oxy hoá rất mạnh nên rất khó lựa chọn anionit thích hợp (do anionit không bền trong môi trường oxy hóa), vì vậy nếu dùng phương pháp trao đổi ion thì vẫn phải khử Cr6+ về dạng cation Cr3+ để có thể dùng cationit bền hơn. Ngoài ra, những anionit thích hợp đối với CN- còn hiếm trên thị trường cũng là nguyên nhân hạn chế đối với phương pháp trao đổi Ion. Vì vậy, xử  lý hoá học chất thải công nghiệp mạ là phương pháp phổ biến. Nguyên lý chung của phương. pháp này là: tách riêng nước thài chứa Cr6+ và nước thải chứa CN-để xử lý riêng. Cuối cùng là kết tủa các ion kim loại bằng nước vôi.

Cr6+ được xử lý theo nguyên tắc: NaHSO, FESO4, SO2 để khử Cr6+ về Cr3+. Sau đó dịch thải chứa Cr3+ được trộn với các dong thải chứa các ion kim loại khác như Cu2+, Ni2+.

Có nhiều phương pháp xử lý CN- nhưng phổ biến nhất là ô xy hóa thành CNO ít độc hoặc thành N2 bằng các chất oxy hoá thích hợp như clo hoặc nước javen. Dòng thải sau xử  lý còn ion kim loại, thường là Cu2+ được trộn với các dòng thải còn lại để xử lý tiếp.

Dòng thải chung được xử lý bằng nước vôi để lắng các kim loại dưới dạng các hydroxit kim loại không tan. Bùn chứa các hydroxit kim loại được tách ra khỏi nước bằng phương  pháp lọc-lắng thông thường.

Phương pháp hiện hữu có những nhược điểm sau:

1. Phải xử lý riêng nước chứa Cr6+ và CN- . Như vậy sẽ đắt và phức tạp.

2. Phải thực hiện thêm bước thứ ba là kết tủa đồng thời Cr3+, Cu2+, Ni2+... bằng Ca(OH)2. Ngoài Cr3+ kết tủa rất dễ dàng còn Cu2+ và Ni2+ cho ta loại cặn rất khó lọc có độ tan khá cao. Đửê xử lý vấn đề này thường phải bổ sung vôi để tăng pH kết hợp với tăng cường khâu lắng lọc.

Các nhược điểm này sẽ được khắc phục bằng công nghệ vi điện hoá

Nguyên lý hoạt động

Nước thả iđược dồn về bể điều hoà 1 (trường hợp nước thải nhiều CN- có thể tách riêng để xử lý CN- trước bằng chất ôxy hoá. Từ đây nước được chỉnh pH xuống 3-4 bằng bộ khống chế pH tự động rồi được bơm vào thiết bị phản ứng 3 chứa phôi sắt và chất xuc tác dạng bột min. Xúc tác đảm bản cho quá trình khử các ion kim loại, nhất là Cr6+ bằng sắt kim loại được thực hiện liên tục trong thời gian dài. Tại đây, Cr6+, Cu2+ và một phần Ni2- được khử về Cr3+ và Cro (?), Cuo và Nio. Ngoài ra, trong nước thải sau phản ứng sẽ chứa một lượng Fe2+ nhất định do phản ứng hoà tan sắt :

Tại 4 bể có chứa phản úng sau:

Fe + 2H+ -> Fe2+ + H2

Fe2+ + 2OH -> Fe(OH)2

Fe(OH)2 + O2 > Fe(OH)3.

Cr3++ 3OH -> Cr(OH)3

Cu2+ (nếu còn) + 2OH -> Cu(OH)3

Ni2+ + 2OH -> Ni(OH)2

Sự có mặt của Fe(OH)3 trong kết tủa là tác nhân keo tụ - hấp phụ làm tăng khả năng làm sạch của các bước tiếp theo. Như vậy, chỉ cần bể lắng và lọc nổi là đủ thu được nước thải đạt mọi tiêu chuẩn về kim loại nặng, giảm chi phi tách bùn.

Đặc trưng chính

Thời gian xử lý một mẻ : 45-60 phút

Chi phí hoá chất : không đáng kể (200-500đ/m3)

Rất đơn giản khi vận hành

Khả năng xử lý kim loại nặng tốt hơn hẳn các phương pháp khác (đạt các tiêu chuẩn theo TCVN5945-95)

Có khả năng tự động hoá cao

Nơi đã áp dụng:

Nhà máy khoá Việt Tiệp

Quy mô : 5m3/giờ

HOÀI CHÂU-VŨ THÁI

Viện hoá học Công nghiệp

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,