Công nghiệp hóa chất Việt Nam trước thiên niên kỷ mới - Chiến lược phát triển, những cơ hội và thách thức

12:00' AM - Thứ năm, 18/09/2003

"Tổng vốn đầu tư cho các mục tiêu đề ra trong chiến lược từ 3,3 đến 3,6 tỷ USD, trong đó cho giai đoạn từ nay đến năm 2005 cần 1,7 tỷ USD và từ 1,6 đến 1,8 tỷ USD cho các năm sau năm 2005"

Bước vào thời kỳ đổi mới, đặc biệt từ năm 1991 đến nay, các đơn vị trong ngành đã chú trọng nghiên cứu, đánh giá thị trường, nghiên cứu đầu tư chiều sâu đổi mới công nghệ và thiết bị (từng phần hoặc từng dây chuyền sản xuất) giảm chi phí sản xuất, ổn định và nâng cao chất lượng sản phẩm. Cho nên, trên tổng thể, các sản phẩm CNHC không những được duy trì mà còn phát triển.

Trong giai đoạn 91-95, tốc độ phát triển bình quân là 20%. Năm 1996 là 16,4%, 1997 là 16,52%; một số sản phẩm có tốc độ phát triển khá so với trước đây như phân lân chế biến năm 1997 tăng gấp 2,1 lần so với 1991 và cùng thời gian này lượng săm lốp ô tô tăng 4,2 lần. Một số sản phẩm thỏa mãn nhu cầu trong nước và đã xuất khẩu như pin thông dụng, ắc qui, săm lốp xe đạp, xe gắn máy, lốp xe đẩy công nghiệp, chất giặt rửa.

Tính đến tháng 6/1998, ngành Hóa chất đã có gần 20 cơ sở sản xuất, liên doanh với nước ngoài với tổng số vốn đầu tư trên 410 triệu USD. Phần lớn các liên doanh sản xuất hàng tiêu dùng thiết yếu nhưng cũng đã có những cơ sở sản xuất nguyên liệu như Liên doanh sản xuất chất dẻo P.V.C, chất hóa dẻo D.O.P. Đây là những sản phẩm hóa dầu mà từ trước đến nay ta phải nhập. Ngoài ra còn có các liên doanh sản xuất săm lốp ô tô, xe máy, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón.

CNHC Việt Nam chuẩn bị bước sang thiên niên kỷ mới trong bối cảnh công nghiệp hóa chất, hóa dầu thế giới đã phát triển mạnh mẽ. Tuỳ theo mức độ phát triển kinh tế của từng nước, công nghiệp hóa chất có trìnhđộ khác nhau nhưng đã là một trong những ngành dẫn đầu về tốc độ phát triển, khối lượng sản phẩm, đầu tư vốn, chi phí cho nghiên cứu và triển khai. Năm 1995, toàn thế giới đã sản xuất và tiêu thụ khối lượng sản phẩm hóa chất trị giá trên 1.500 tỷ USD. Đồng thời các tập đoàn hóa chất, hóa dầu xuyên quốc gia đã nắm phần lớn thị trường hóa chất quốc tế. Trung Quốc, các nước ASEAN láng giềng trong 25-30 năm trở lại đây cũng tập trung phát triển CNHC làm thay đổi cục diện sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm hóa chất trong khu vực và thế giới .Đó là những thách thức lớn đối với CNHC Việt Nam trong bước đường cạnh tranh, phát triển và hội nhập sắp tới. Trong hoàn cảnhđó, có thế thấy rõ những tồn tại của ngành CNHC chúng ta như năng lực sản xuất chưa tương xứng với nhu cầu phát triển, trìnhđộ công nghệ nhìn chung còn lạc hậu, tiêu hao vật tư nguyên liệu còn nhiều, phần lớn cơ sở vật chấtđược đầu tư từ những năm 1960, nay cải tạo, đổi mới, mở rộng đòi hỏi vốn đầu tư khá lớn.

Tuy vậy ngành CNHC Việt Nam cũng có nhiều cơ hội và thuận lợi để phát triển, đó là Việt Nam có tài nguyện làm nguyên liệu cho CNHC như dầu mỏ, khí thiên nhiên (dùng cho sản xuất phân đạm, hóa chất hữu cơ, cho công nghiệp hóa dầu); apatít (cho sản xuất phân lân và các chất chứa phốt pho); cao su thiên nhiên (cho sản xuất sản phẩm cao su); muối biển và các loại nguyên liệu khoáng sản, thực vật khác rất phong phú. Việt Nam là một nước đông dân, đây vừa là nguồn laođộng dồi dào, vừa làthị trường lớn tiêu thụ sàn phẩm hoa chất.

Những mục tiêu phát triển toàn ngành là:

Từng bước xây dựng nền CNHC hiện đại qua việc hình thành công nghiệp tổng hợp hữu cơ, hóa dầu, hình thànhcác khu công nghiệp tập trung, các tổ hợp sản xuất hóa chất có qui mô lớn, sử dụng công nghệ tiên tiến tạo ra những sản phẩm có sức cạnh tranh trong thị trường khu vực. Phấn đấu để có tốc độ phát triển từ 12-16% trong giai đọan từ nay đến 2005; và 16-18% cho những năm tiếp sau. Để thực hiện mục tiêu trên, phương hướng phát triển chủ yếu của mỗi chuyên ngành sẽ là:

Thứ nhất: sản xuất các loại phân bón phục vụ nông nghiệp

* Về phân đạm: từ nay đến 2005, cải tạo, mở rộng nhà  máy đạm Hà Bắc, xây dựng nhà máy đạm Phú Mỹ, nâng sản lượng lên 1,2 triệu tấn đáp ứng khoảnh 50% nhu cầu về phân đạm. Sau 2005, tuỳ theo tình hình sẽ mở rộng nhà máy đạm Phú Mỹ lên gấpđôi (1,6 triệu tấn/năm) hoặc xây dựng nhà máy mới ở miền Tây Nam Bộ với công suất 800.000 t/năm). Theo chương trình này, đến năm 2010, sẽ đạt tổng số 2,6 triệu tấn urê, gần thỏa mãn nhu cầu trong nước.

* Về phân lân: sẽ cải tạo, mở rộng các nhà máy sản xuất phân lân hiện có như Supephốt phát và hóa chất Lâm Thao, Supe phốt phát Long Thành, Phân lân Văn Điển, Phân lân Ninh Bình... đưa sản lượng phân lân chế biến lên 1,15 triệu T/năm vào năm 2000 và từ 1,3-1,4 triệu tấn/năm sau năm 2000.

* Đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất phân bón chất lượng cao DAP công suất 330.000 T/n (tương đương với 900.000 tấn supe lân) tại Quảng Ninh.

Thực hiện chương trình này, từ sau 2003, sản lượng phân lân do Tổng Công ty Hóa chất sản xuất sẽđạt 2,4 triệu tấn

* Về phân hỗn hợp N.P.K. tổng công suất của các nhà máy sản xuất NPK của Tổng công ty và các liên doanh trong và ngoài Tổng Công ty là 2 triệu tấn/năm. Nếu phát huy hết công suất sẽ đảm bảo nhu cầu không những hiện nay mà đến sau 2005.

Thứ hai: hóa dầu và vật liệu mới

Ngành hóa dầu và vật liệu mới ra đời sẽ sản xuất và cung cấp nhiều sản phẩm và vật liệu mới (các loại chất dẻo sợi tổng hợp, vật liệu compozit, thuốc nhuộm, hóa dược...) cho các ngành công nghiệp như xây dựng, chế tạo máy, hóa chất... mà từ trước đến nay vẫn phải nhập khẩu: Nhiều loại chất đèo, các compozit sẽ thay thế các vật liệu truyền thông như gỗ, sắt thép. Tới năm 2000 sẽ đạt sản lượng 80.000 tấn chất dẻo P.V.C, 30.000 tấn chất hóa dẻo, mở rộng nhà máy sàn xuất P.V.C lên gấpđôi sau năm 2002.

Xây dựng nhà máy sản xuất chất dẻo Polypropylen (P.P) trong khu lọc dầu Dung Quất chuẩn bị xây dựng nhà máy sản xuất chất dẻo polystyren (P.S), các nhà máy sản xuất chất dẻo polyetylen (PE) với nhiều phương án sản xuất khác nhau. Đồng thời xây dựng nhà máy metanol công suất 660.000 năm. Theo dự án, tổng số các loại nhựa, chất dẻo từ công nghiệp hóa dầu trong giaiđoạn 2005-2100 sẽ đạt trên 600.000 T (hiện nay hàng năm nhập trên 400.000 tấn).

Thứ ba: hóa chất cơ bản

Sẽ cải tạo, mở rộng, xây dựng mới các dây chuyền sản xuất H2S04 từ 270.000 tấn hiện nay lên 350.000 tấn vào năm 2000 và 750.000 tấn vào các năm 2003-2004 đáp ứng nhu cầu sản xuất phân bón và các sản phẩm hóa chất khác.

Cải tạo và mở rộng các nhà máy sản xuất xút hiện có. Chuẩn bị xây dựng nhà máy sản xuất xút lớn (200.000 tấn/năm) sau 2005 để vừa có xút vừa có cho dùng sản xuất V.C.M làm nguyên liệu cho P.V.C mà hiện nay tađang phải nhập.

Ngoài 3 ngành sản xuất quan trọng nêu trên, ngành CNHC sẽ tập trung đầu tư cải tạo mở rộng các cơ sở sản xuất hiện có để thỏa mãn nhu cầu trong nước và xuất khẩu một phần các loại sản phẩm hóa chất khác: pin, ắcquy, săm lốp xe đạp, xe gắn máy, chất giặt rửa, mỹ phẩm, sơn các loại... Cải tạo mở rộng 3 cơ sở sản xuất săm lốp ôtô hiện có, nâng sản lượng lên 500.000 bộ vào năm 2000. Xây dụng cơ sở sản xuất săm lốp ô tô loại lớn, qui mô 1 triệu bộ/năm.

Để có thể triển khai thực hiện chiến lược phát triển ngành CNHC nêu trên, cần có những biện pháp hữu hiệu và đồng bộ sau: Tổng vốn đầu tư cho các mục tiêu đề ra trong chiến lược từ 3,3đến 3,6 tỷ USD, trong đó cho giai đoạn từ nay đến năm  2005 cần 1,7 tỷ USD và từ 1.6 đến 1 ,8 tỷ USD cho các năm  sau năm 2005.

Hướng chính cần tập trung để có  nguồn vốn nêu trên là vay vốn tín dụng theo kế hoạch đầu tư phát triển của nhà nước, huyđộng nguồn lực của các đơn vi, của cán bộ CNV, liên kết với các đơn vị kinh tế để cùng đầu tư, sử dụng tiền bán cổ phần các doanh nghiệp nhà nước, liên doanh với nước ngoài hoặc kêu gọiđầu tư nước ngoài theo phương thức BOT hoặc 100% vốn nước ngoài.

Song song với việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho sản xuất, cần đặc biệt quan tâm tới kế hoạch đào tạo, bôi duỡngđội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ KHKT vừa trung thành vừa có chuyên môn nghiệp vụ kỹ thuật giỏi, đủ năng lực để tiếp cận với cơ chế mới , với công nghệ mới, vận hành có hiệu quả và phát triểnđược cơ sở vật chất kỹ thuật,đào tạo đội ngũ công nhân giỏi nghềđáp ứng yêu câu sản xuất.

Trong tiên trình hội nhập nền kinh tế khu vục và thế giới, Nhà nước cần có chính sách phù hợp bảo hộ sản xuất trong nước, đặc biệt là trong giai đoạn trước 2006 giúp các cơ sở sản xuất trong nước có thêm thời gian và nội lực để tích luỹ, đổi mới công nghệ, giảm chi phí nâng cao chất lượng, nhằm tăng khả năng cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại, nhất là khi nước ta chính thức gia nhập AFTA và WTO.

(trích bài phát biểu tại Hội nghị

Hóa học toàn quốc lần thứ 3)

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,