"Tăng trưởng trước, làm sạch sau" - cái giá phải trả

12:00' AM - Thứ năm, 15/05/2003

PHỎNG VẤN ÔNG LÊ QUỐC KHÁNH THỨ TRƯỞNG BỘ CÔNG NGHIỆP

1. Xin ông cho biết hiện trạng ô nhiễm môi trường trong sản xuất công nghiệp ở nước ta ?

Ô nhiễm môi trường đang là thách thức của phát triển kinh tế hiện đại. Sản xuất công nghiệp có vai trò then chốt trong nhiều nền kinh tế của các quốc gia, đồng thời cũng có thể là nguồn gây ô nhiễm môi trường quan trọng, nhiều khi có tác động vượt khỏi phạm vi của mỗi nước. Trong thập niên cuối cùng của thế kỷ này, đã có hai Hội nghị Quốc tế của các Nguyên thủ quốc gia tập trung thảo luận về các biện pháp bảo về môi trường. Hội nghị Rio de J aneiro (Braxin) năm 1992 với sự tham gia của 150 quốc gia, đã cho ra đời Công ước Rio nổi tiếng về bảo vệ tầng ôzôn. Các quốc gia đã đi đến sự thỏa thuận áp dụng các biện pháp nhằm giảm thiểu sự thải CO2 (là một trong các chất khi gây hiệu ứng nhà kính);với các nước phát triển, mức thải CO2 của năm 2000 phải kéo về ở mức của năm 1990. Hội nghị Kyoto (Nhật Bản) vào trung tuần tháng 12/97 vừa rồi, có sự tham gia của 160 nước, một lần nữa lại tập trung thảo luận về vấn đề khí nhà kính, hạn chế sự nóng lên toàn cầu và sự thay đổi bất thường của khí hậu.

 Điểm qua các hoạt động trên để thấy rằng, trên toàn cầu, vấn đề ô nhiễm môi trường đang thực sự ở mức báo động , thu hút sự chú ý của đại đa số các quốc gia trên thế giới.

So với các nước trong khu vực sản xuất công nghiệp của nước ta có quy mô còn rất nhỏ bé nên sự tác động gây ô nhiễm môi trường phần lớn đang ở phạm vi hạn chế gây suy thoái cục bộ trong ranh giới của vùng hẹp. Tuy vậy, với tốc độ tăng trưởng công nghiệp hàng năm của chúng ta hiện nay, để bảo đảm phát triển bền vững chúng ta đang đứng ở thời điểm không thể trì hoãn, bắt buộc phải xác lập các bước đi thích hợp, thực hiện các biện pháp giải quyết và ngăn ngừa ô nhiễm môi trường.

2. Khi chúng ta đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, vấn đề môi trường được đặt ra như thế nào ?

Với tư cách là động lực trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, là đòn bẩy để phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân, Công nghiệp Việt Nam sẽ phải giữ tốc độ tăng trưởng hàng năm vào khoảng 13-14% , tức là trong vòng 10 trăm tới giá trị các sản phẩm công nghiệp sẽ tăng gấp 4 lần so với hiện nay. GDP công nghiệp hiện nay chiếm khoảng 22,5% tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP của cả nước) sẽ tăng lên trên 30% vào những năm đầu thế kỷ tới. Nếu xem xét từ khía cạnh môi trường, đây cũng là thách thức lớn. Chúng ta còn nhiều việc phải làm, cần đầu tư thêm tiền của, yêu cầu có thời gian... để đổi mới công nghệ, hiện đại hóa thiết bi, xây dựng một nền công nghiệp đạt trình độ tương đồng với các quốc gia trong khu vực. Do hạn chế về nguồn vốn, lại phải đảm bảo yêu cầu giữ vững ổn định và tăng trưởng trong sản xuất, chúng ta vẫn phải duy trì, sửa chữa có nâng cấp để khai thác tối đa thiết bị hiện có, mặt khác phải đầu tư dần có lựa chọn, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ thích hợp và tiên tiến của thế giới, trang bị lại các xí nghiệp. Trình độ công nghệ, năng lực của thiết bị có quan hệ chặt chẽ đến lượng chất thải, đến khả năng gây ô nhiễm. Bảo vệ môi trường trước hết là kiểm soát, giảm thiểu những tác nhân gây ô nhiễm ngay tại đầu vào, tiếp đến mới là các biện pháp xử lý ở "cuối đường ống". Đánh giá tổng thể thì trình độ công nghệ trong ngành công nghiệp nói chung còn ở mức dưới trung bình so với trình độ chung của thế giới. Nhìn vào các phân ngành công nghiệp cũng như đa số các xí nghiệp, đang có tình trạng công nghệ và thiết bị cũ vẫn tồn tại đan xen với thiết bị công nghệ mới, trong đó ở nhiều trường hợp, công nghệ lạc hậu còn chiếm tỷ lệ lớn. Cùng với tốc độ phát triển khá nhanh của quá trình đô thị hóa, nhiều nhà máy, xí nghiệp trước đây nằm ở ngoại ô thành phố, nay lọt vào giữa khu vực dân cư đông đúc. Vấn đề ô nhiễm công nghiệp phải  giải quyết đồng thời với những vấn đề của ô nhiễm đô thị  như là quản lý chất thải sinh hoạt, chất thải đô thị, ô nhiễm không khí do các phương tiện giao thông, tiếng ồn .v.v. Cơ chế quản lý của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây cũng để lại những ảnh hưởng tiêu cực về môi trường. Ví dụ như sự chú trọng phát triển công nghiệp nặng kèm theo mức bao cấp nặng nề về giá năng lượng và nguyên liệu, dẫn tới hiệu suất năng lượng thấp, hao phí năng lượng, nguyên liệu lớn và nồng độ ô nhiễm cao trong sản xuất công nghiệp...

Môi trường không khí, nước mặt ở sông, rạch bờ biển của một số vùng đã bi ô nhiễm với nồng độ hoặc tổng lượng chất thải độc hại cao như thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa ở phía Nam; Hà Nội, Hải Phòng, Việt Trì, Hà Bắc, Quảng Ninh ở phía Bắc; Đã có nhiều công bố các số liệu từ kết quả nghiên cứu khảo sát của một số cơ quan dù có  khi quá nhấn mạnh :mặt ảm đạm cũng đã vẽ nên bức tranh về phông môi trường của một số vùng đã nêu trên.

Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực đã cho chúng ta những bài học quý. Nếu phát triển công nghiệp một cách ồ ạt, thiếu quan tâm thích đáng đến môi trường, phát triển theo phương thức "tăng trưởng trước, làm sạch sau" sẽ nhanh chóng phải trả giá đắt sau vài năm tăng trưởng về kinh tế. Gia tăng giá trị tuyệt đối các sản phẩm cho xã hội chỉ mới đạt đến sự tăng trưởng kinh tế mà chưa phải là phát triển xã hội, nếu sự tăng trưởng đó chưa có tác động đem lại mọi mặt tốt đẹp hơn cho cuộc sống của nhân dân.

3. Tiêu chuẩn môi trường giữa nhà máy mới và cũ có sự phân biệt. Ông có thể cho biết vì sao?

Tiêu chuẩn về môi trường mới nhất được Bộ KHCN&MT ban hành vào năm 1995.

Tiêu chuẩn là một chế định về chất lượng để bất cứ ai tham gia hoạt động trong lĩnh vực liên quan đều phải tuân thủ. Với sự tiến triển của xã hội, tiêu chuẩn (đặc biệt tiêu chuẩn về môi trường) liên tục được bổ sung sửa đổi, có trường hợp chỉ một hai năm đã có sửa đổi. Theo tôi, để soạn thảo một tiêu chuẩn môi trường cần xuất phát từ một số yếu tố:

-  Phù hợp trình độ chung về công nghệ - kỹ thuật của mỗi nước; xem xét hiện trạng, tính tới khả năng phát triển trong tương lai gần.

- Phù hợp thực lực kinh tế, trình độ xã hội, chính sách phát triển, chính sách sử dụng tài nguyên... của mỗi nước.

- Tham khảo để hội nhập với khu vực, với thế giới.

Tôi nghĩ rằng, đó là lý do vì sao cần phân biệt yêu cầu, đặt ra đối với một nhà máy đã tồn tại lâu năm với một nhà máy chuẩn bị xây dựng cho tương lai. Theo tôi biết có những quốc gia còn phân chia theo vùng lãnh thổ để hiệu chỉnh các giá trị của một tiêu chuẩn, thậm chí có tiêu chuẩn được quy định ở bang này nhưng không có quy định ở bang khác.

4. Ông có ý kiến gì về tiêu chuẩn môi trường công nghiệp hiện hành? Có phù hợp với điều kiện của thực tế nước ta không?

Tôi đã nói ở trên quan niệm về sự phù hợp của một tiêu chuẩn. Các cơ quan soạn thảo và ban hành tiêu chuẩn luôn luôn phải soi rọi với thực trạng kinh tế khoa học, công nghệ, kỹ thuật của nước nhà để quy định chỉ tiêu chất lượng phải đạt đến của mỗi sản phẩm, của mỗi dây chuyền sản xuất. Sự nôn nóng vượt trước thời đại, mong muốn hội nhập sớm với trình độ của nước ngoài cũng có thể gây nên những khó khăn trong vận dụng vào thực tiễn. Mặt khác, để áp dụng chính xác tiêu chuẩn, các phương pháp đo lường xác định chỉ số cũng nhất thiết phải đưa về các điều kiện tiêu chuẩn, tránh sự vận dụng tuỳ ý do không quy định rõ điều kiện để so sánh hợp chuẩn.

5. Cuối cùng, xin ông cho biết những bất cập trong việc quản lý môi trường hiện nay, cụ thể với Bộ Công nghiệp?

Luật BVMT cũng như Nghị định 175 -CP, hướng dẫn thi hành Luật, đều ra đời vào đầu năm 1994, trước khi Nhà nước ta có những cải cách nền hành chính. Các bộ quản lý ngành hiện nay đã chuyển sang thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, không còn trực tiếp chỉ đạo sản xuất đối với các xí nghiệp. Chức năng là chủ đầu tư các dự án, quản lý trực tiếp sản xuấ tổ chức, thực hiện quá trình sản xuất và giải quyết mọi vấn đề liên quan đến quá trình sản xuất đã được phân cấp cho các Tổng công ty.Trong điều kiện như vậy cần làm rõ về mặt pháp lý, phân định ranh giới hoạt động của các Bộ, hình thành cơ chế phối hợp hữu hiệu giữa cơ quan đầu mối quản lý Nhà nước về môi trường (Bộ KHCN&MT) với các Bộ quản lý ngành, cùng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về môi trường. Công tác môi trường là một tập bợp khăng khít các quan hệ giữa Công nghệ - Kỹ thuật - Kinh tế - Xã hội. Dường như đang thiếu vắng một sự hợp tác có hiệu quả, không hình thức, mang tính thống nhất của một hoạt động liên Bộ (KHCN&MT, Kế hoạch và Đầu tư Tài chính, Công nghiệp) trong quản lý môi trường công nghiệp. Trong tình hình thể chế như hiện nay, việc quản lý môi trường của Bộ Công nghiệp có những khó khăn, đối với khu vực các doanh nghiệp Nhà nước cũng như doanh nghiệp tư nhân, nếu không muốn làm chồng chéo công việc với Bộ KHCN&MT, gây phiền phức thêm cho các cơ sở.

P.V

Thực hiện

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,