Để an toàn trong sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật

12:00' AM - Thứ năm, 15/05/2003

Trong những năm qua, nhu cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) ở nước ta tăng lên nhanh chóng từ 10.000 tấn/năm vào những năm đầu thập kỷ 80, lên tới 30.000 tấn/năm vào năm 1995 và trên 32.000 tấn vào năm 1997. Để đáp ứng nhu cầu đó, hiện nay cả nước ta có khoảng  10.000 cơ sở sản xuất thuốc với khoảng 30 công ty, 20 nhà máy xí nghiệp nhà nước, chưa kể xấp xỉ 100 công ty nước ngoài đã vào Việt Nam. Nhưng để đảm bảo an toàn cho con người và môi trường sống, thì vấn đê đặt ra là cần có biện pháp hợp lý trong điều tiết và sử dụng hóa chất BVTV.

Tuy số lượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở nước ta không nhiều so với các nước trong khu vực và thế giới, nhưng ở Việt Nam lại sử dụng một số loại thuốc mà thế giới đã hạn chế hoặc cấm dùng như Methyl Parathion thuộc loại độc nhất hiện nay. Về mặt nguyên tắc sau khi "danh mục được phép sử dụng, không được phép hoặc hạn chê sử dụng" được ban hành, cơ quan thẩm quyền có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan hữu quan kiểm soát việc nhập khẩu thuốc và hướng dẫn các cơ sở trong nước thực hiện quy định của pháp luật. Nhưng thực tế, vấn đề này rất khó kiểm soát.

Trước năm 1993, lượng thuốc có độc tính cao nhập vào Việt Nam là 7.500 tấn/năm. Đến năm 1996 chỉ còn 3000 tấn, năm 1997 chỉ còn 2.500 tấn/năm. Hiện nay số thuốc trong danh mục cho phép sử dụng không được phép hoặc hạn  chế chỉ có 220 hóa chất với trên 700 tấn thương phẩm. Đa số các cơ sở tuân thủ những qui định trong việc  nhập khẩu, sản xuất. Nhưng cũng nhiều cơ sở khác cùng với tư thương ồ  ạt nhập thuốc qua đường  tiểu ngạch làm cho việc  kiểm soát rất khó khăn.  Qua thanh tra một số cơ sở  kinh doanh sản xuất thuốc BVTV ở mốt số tỉnh, thành phố đã phát hiện đến 70% số cơ sở vi phạm hoạt động như không có giấy phép hoặc bán thuốc ngoài doanh mục, hàng không đúng qui cách.

Tình trạng sử dụng thuốc BVTV hiện nay chưa được kiểm soát một cách chặt chẽ. Xu hướng của người dân là dùng loại thuốc rẻ tiền nhưng có độc tính cao. Hiện nay, một số loại thuốc tuy đã bị cấm sử dụng như DDT hợp chất chứa arsen vẫn được đem ra sử dụng. Cũng do việc quản lý và kiểm soát chưa được nghiêm nên đã gây ra một số vụ ngộ độc thuốc trừ sâu qua dư lượng thuốc còn tồn đọng ở nông sản và bị ngộ độc trong quá trình sử dụng chúng; do người nông dân không tuân thủ những nguyên tắc về an toàn thuốc BVTV. Hiện tượng phổ biến là người dân sau khi dùng thuốc BVTV vứt luôn vỏ bao bì, chai lọ tại ruộng, mương gây ô nhiễm nguồn nước. Nguy hiểm hơn, nhiều người còn dùng lại các vỏ hóa chất BVTV để đựng các loại lương thực khác làm tăng nguy cơ nhiễm độc đối với người và gia súc.

các công ty tư nhân, trong quá trình điều tiết, nhập khẩu (nhiều khi là nhập lậu) do không tiêu thụ hết, hàng bị hư hỏng không xử lý theo quy định mà đổ bừa bãi gây ô nhiễm môi trường, ônhiễm nguồn nước. Một số thuốc dễ bị phân hủy hoá học ,hoặc sinh học nhưng cũng có những loại chỉ phân huỷ trong thời gian khá dài. Những kết quả nghiên cứu mới đây của Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường cho thấy có hàm lượng các nguyên tố kim loại nặng trong nước. Còn tại các cơ sở gia công, đóng gói, nếu như công suất từ 1.000 đến 1.500 tấn/năm thì lượng nước thải sản xuất lên tới 15-130 m3/ngày.

Để đảm bảo an toàn cho người và gia súc cũng như hạn chế đến  mức tối đa ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV gây ra, tháng 2/1993 Quốc hội đã ban hành pháp lệnh bảo vệ và kiểm định thực vật. Tháng 11/1993, Chính phủ ban hành nghị đinh 92/CP hướng dẫn cụ thể triển khai pháp lệnh nói trên. Như vậy, Nhà nước thống nhất việc quản lý sản xuất, nhập khẩu, bảo thuốc BVTV. Các đơn vị trung ương và địa phương đều dưới sự quản lý của nhà nước, của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, các tỉnh thành có các đại lý cung ứng thuốc BVTV đến người sử dụng. Chi cục BVTV trực tiếp quản lý và cấp giấy phép, có hướng  dẫn cụ thể từng loại hoá chất để người nông dân dễ sử dụng. Đồngthời đề ra các biện pháp kiểm soát hoá chất và các sản phẩm có hóa chất thống nhất trong cả nước như: Thống kê số lượng, chủng loại sản phẩm cũng như hóa chất được sử dụng trong toàn bộ ngành kinh tế quốc dân. Đánh giá định loại các hóa chất có nguy cơ gây hại môi trường và sức khỏe con người. Quy đinh nhãn hiệu, dán nhãn đầy đủ theo quy định của các tổ chức, quốc tế. Xây dựng tiêu chuẩn về việc sử dụng và nhập khẩu hóa chất cũng như sản phẩm  có chứa hóa chất. Tuyên truyền giáo dục cho cộng đồng nâng cao nhận thức về mức độ độc tố và nguy hại của hóa chất BVTV để toàn dân tham gia vào công việc kiểm soát và giám sát. Chính vì các tác hại của chúng đến môi sinh cho nên việc mua bán, sử dụng và bảo quản phải thật nghiêm ngặt.

Mặc dù đã có những qui định, biện pháp cụ thể hướng dẫn cách sử dụng và bảo quản hóa chất, song để hạn chế tới mức tối  đa những hậu quả đáng tiếc do hóa chất BVTV gây ra thì Nhà nước vẫn cần phải có các biện pháp kiểm soát chặt chẽ, xử lý nghiêm khắc hơn đối với các cơ sở không tuân thủ đung qui định. Đồng thời cần có nhiều thông tin hướng dẫn cụ thể người nông dân trong cách sử dụng bảo quản hoá chất BVTV, có như vậy mới đảm bảo tránh được các  vụ ngộ độc do hoá chất độc hại gây ra, đảm bảo an toàn cho người sử dụng: Hướng tới năm 2000 Việt Nam sẽ là nước có nhiều sản phẩm nông nghiệp sạch.

HỒNG LIÊN

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,