Sản xuất và khai thác than ở Trung Quốc

12:00' AM - Thứ hai, 02/12/2002

Trước năm 1999 Trung Quốc dẫn đầu thế giới về sản xuất than với tổng sản lượng trên 1 tỷ tấn/năm, trong đó than xuất khẩu đạt khoảng 35 triệu tấn/năm. Nhưng trong năm l999 chính phủ TQ đã đóng cửa hơn 3l0.000 mỏ than, tổng sản lượng than chỉ đạt l.050 triệu tấn, giảm 200 triệu tấn so với năm 1998. Những mỏ than nhỏ không nằm gần các mỏ lớn thuộc sở hữu nhà nước sẽ bị đóng cửa hoàn toàn. Nhu cầu than ở các ngành sản xuất xi măng, phân bón, luyện kim vẫn giữ ở mức thấp, nhưng xuất khẩu than đã tăng hơn 15 %.

Nền tảng của ngành khai thác than khổng lồ ở TQ là những mỏ than đã được thăm dò với tổng trữ lượng khoảng 1000 tỉ tấn. Nhìn chung, miền Tây và miền Bắc TQ có nhíều mỏ than, còn miền Đông và miền Nam tương đối ít than. Có thể chia ngành công nghiệp khai thác than thành 3 khu vực sau :

- vùng than miền Đông đang phát triển, kể cả các vùng Đông Bắc và Đông Nam TQ, các tỉnh Bắc Kinh, Thiên Tân, Hồ Bắc và vùng Trung Nam TQ.

- vùng cung cấp than ở miền Trung, bao gồm các tỉnh miền Trung như Sơn Tây, Nội Mông.

- vùng miền Tây, kể cả Tây Bắc TQ, có trữ lượng than lớn nhưng chưa khai thác.

Hiện nay, hơn 600 mỏ than lớn trực thuộc chính phủ trung ương và khoảng 1.800 mỏ than quy mô trung bình thuộc các tỉnh đang được khai thác ở TQ. Ngoài ra còn có nhiều mỏ than nhỏ do các thành phố, thị xã quản lý, nhưng trong thời gian qua rất nhiều mỏ kiểu này đã phải đóng cửa do tình trạng cung vượt cầu. Than chiếm 75 % các nguồn năng lượng sơ cấp được sản xuất và tiêu thụ ở TQ, đồng thời chiếm 80% dự trữ năng lượng đã được thăm dò trong nước. Than cũng chiếm 60% nguyên liệu được sử dụng trong công nghiệp hóa chất TQ.

Trong hai thập niên qua ngành khai thác than TQ đã được hiện đại hóa nhiều, nhưng vẫn còn thua kém ngành khai thác than ở các nước phát triển, nhất là về những mặt như hiệu quả khai thác, chất lượng thiết bị, bảo vệ môi trường, an toàn lao động và sức khỏe nghề nghiệp, hiệu quả sử dụng tài nguyên và hiệu quả kinh tế. Phần lớn các mỏ than lớn trực thuộc trung ương đang được cơ cấu lại nhằm mục đích cái thiện năng suất lao động, cải thiện tình hình an toàn lao động và hiệu quả sử dụng tài nguyên nhờ áp dụng các kỹ thuật và thiết bị hiện đại.

Trong vòng 5 năm tới TQ sẽ đầu tư khoảng 6 tỉ USD vào việc xây dựng và hiện đại hóa các mỏ than với công suất và hiệu quả cao, xây dựng các nhà máy điện gần các mỏ than. Các mục tiêu chính của chương trình này là:

- Cải thiện hiệu quả và độ an toàn của các giếng mỏ cơ giới hóa, phát triển các lò dọc.

- Áp dụng kỹ thuật và thiết bị mới để tăng sản lượng và hiệu quả.

- Kiểm soát, ngăn ngừa khí và bụi than để phòng chống cháy nổ.

- Phát triển các hệ thống hỗ trợ vận chuyển kiểu mới cho việc vận chuyển than trong các đường hầm dưới đất.

- Áp dụng công nghệ và thiết bị hiện đại cho các mỏ lộ thiên.

- Xây dựng các nhà máy điện cạnh các mỏ than để tận dụng loại than chất lượng thấp, giảm ô nhiễm môi trường.

Tình trạng mất an toàn lao động trong ngành khai thác than của TQ đã lên đến mức báo động. Số tử vong được báo cáo trong 6 tháng đầu năm 2000 là 2.700 người, chủ yếu do tai nạn nổ khí. Ứớc tính mỗi năm có trên 10.000 công nhân trong ngành than bị chết vì bệnh phổi.

Công việc giám sát an toàn mỏ than và các tiêu chuẩn về trang thiết bị đang tụt hậụ nhiều so với các nước khai thác than khác, vì vậy chính phủ TQ đã cam kết sẽ cải thiện tình hình.

TQ, than được khai thác chủ yếu từ các mỏ ngầm dưới đất chỉ khoảng 7% tổng sản lượng than được khai thác ở các mỏ lộ thiên. Năm 1996, sản lượng trung bình của một mỏ trong số các mỏ than thuộc trung ương là 785.000 tấn/ năm, còn ở các mỏ than trực thuộc tỉnh là 109.000 tấn/ năm. Hiện nay vẫn còn 80.000 mỏ than trực thuộc các thành phố, thị xã, với sản lượng trung bình mỗi mỏ chỉ khoảng 6.700 tấn/ năm.

Năng suất lao động trong ngành than TQ khá thấp, chỉ bằng l/10 năng suất tương ứng ở Ôxtrâylia và còn thấp hơn nữa so với Mỹ - nước đã vượt TQ để trở thành quốc gia sản xuất than lớn nhất thế giới hiện nay. Hiệu suất thu hồi than từ vỉa than ở TQ chỉ đạt 20 - 50%. ở các mỏ nhỏ địa phương, hiệu suất thu hồi thấp đến mức khoảng 90% than trong vỉa bị bỏ phí không thu hồi được.

Đại đa số than khai thác ở TQ được tiêu thụ trong nội địa, vì vậy nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường lớn nhất ở TQ là việc đốt than. Theo ước tính, hằng năm sự ô nhiễm môi trường do đốt than đang gây ra thiệt hại khoảng 1,9 triệu USD cho các công trình xây dựng và sản xuất nông nghiệp, chưa tính đến các thiệt hại về mất sức khỏe cộng đồng. Trong tương lai gần, than vẫn sẽ là nguồn năng lượng chủ yếu của TQ, vì vậy việc áp dụng công nghệ sạch là vấn đề rất quan trọng để giảm ô nhiễm không khí và tăng hiệu quả sử dụng than.

Hiện nay Mỹ, châu Âu, Ôxtrâylia đang tập trung nghiên cứu các hệ thống đốt than tân tiến để giảm ô nhiễm không khí. Nhưng TQ vẫn chưa đi đến giai đoạn phát triển đó, mà vẫn đang tập trung nỗ lực vào việc phát triển và cải thiện các phương pháp sản xuất than rửa. Cho đến gần đây, chỉ chưa đầy 1/4 than sản xuất ở TQ (kể cả than luyện cốc và than đốt lò hơi nước) là than đã rửa, số than còn lại được đốt ở dạng chưa rửa. Theo các nhà khoa học TQ, công nghệ sản xuất than rửa là một công nghệ có chi phí đầu tư và vận hành thấp hơn so với các công nghệ sản xuất than sạch khác.

Than có hàm lượng lưu huỳnh cao hoặc trung bình (trên 2% lưu huỳnh) chiếm đến ll % tổng sản lượng than hằng năm của TQ. 65 % số than này chứa lưu huỳnh ở dạng pyrit. Phần lớn các chất tro và 50 - 70% pyrit có thể được loại bỏ nhờ phương pháp phân loại cơ học. Cuối năm 1997, các mỏ than lớn của nhà nước có tổng cộng 226 nhà máy tuyển than với tổng công suất rửa than là 34l triệu tấn/ năm. Ngoài ra còn có 176 nhà máy tuyển than thuộc địa phương với tổng công suất rửa than là 49 triệu tấn/năm và nhiều nhà máy tuyển than quy mô nhỏ thuộc sở hữu tư nhân.

Nhà máy tuyển than nồi hơi lớn nhất ở TQ là nhà máy Antaibo ở Sơn Tây với công suất 15 triệu tấn/ năm, còn nhà máy tuyển than luyện cốc lớn nhất là một nhà máy ở Bắc Kinh với công suất 4 triệu tấn/năm.

Trong các nhà máy tuyển than ở TQ người ta thường kết hợp các công đoạn sàng với tuyển nổi hoặc phân loại trong môi trường tỷ trọng cao. Hàm lượng tro trong than chưa tuyển của TQ trung bình là 30%, hàm lượng lưu huỳnh khoảng l,04%. Để sản xuất than luyện cốc người ta phải rửa than sao cho hàm lượng tro còn khoảng 9,9 %, hàm lượng lưu huỳnh còn 0,67%. Để nâng cao chất lượng than, TQ dự kiến xây dựng thêm các nhà máy tuyển than và nâng công suất tuyển than lên 450 - 500 triệu tấn/năm. Tỷ lệ than được rửa sẽ tăng từ 23% lên 30%.

THẾ NGHĨA
Theo Mining Magazine,
12/2002

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,